http://www.4shared.com/folder/7ZParQvx/_online.html
Việt Nam là một nước cung cấp nhiều loại nông sản hàng đầu của thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, thủy - hải sản... Tuy nhiên, do chất lượng đầu tư cho nông nghiệp của toàn xã hội rất thấp nên chất lượng và uy tín nông sản chưa cao, phải bán giá thấp. Đời sống nông dân vẫn còn nghèo, hiểu biết và kiến thức nông nghiệp kém nên chưa quan tâm đến môi trường xung quanh, đặc biệt sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có hại cho môi trường.
Việt Nam là một nước cung cấp nhiều loại nông sản hàng đầu của thế giới như gạo, cà phê, hạt tiêu, thủy - hải sản... Tuy nhiên, do chất lượng đầu tư cho nông nghiệp của toàn xã hội rất thấp nên chất lượng và uy tín nông sản chưa cao, phải bán giá thấp. Đời sống nông dân vẫn còn nghèo, hiểu biết và kiến thức nông nghiệp kém nên chưa quan tâm đến môi trường xung quanh, đặc biệt sử dụng nhiều phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật có hại cho môi trường.
Ngành nông nghiệp vẫn quản lý theo kiểu cắt khúc, phân đoạn, không ai là người chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng các sản phẩm chiến lược quốc gia, có giá trị tỷ đô như gạo, cá, cây ăn quả ở miền Tây; cao su, cà phê, trà... ở miền Đông Nam Bộ.
Nông dân luôn là người thua
Theo dõi trả lời chất vấn của Bộ trưởng NN&PTNT trước Ủy ban TV QH ngày 8/4/2014, tôi lục lại các văn kiện của Đảng, Chính phủ và các văn bản chỉ đạo khác của Trung ương và địa phương từ những năm 1993 - 1994. Tất cả đều nói rất rõ về "Ba hóa", "Bốn nhà", "phát triển đồng thời nội - ngoại thương", "sản xuất cái khách hàng cần để bán" v.v... Nghĩa là sau hơn 20 năm vấn đề vẫn "mới tinh".
Chương trình cấp Nhà nước điều tra cơ bản tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long năm 1983 - 1990 không được quan tâm vận dụng là một lãng phí. Và đó cũng là nguyên nhân của tình hình "thấy người ta ăn khoai vác mai mà chạy", nên sản xuất không theo qui hoạch, gây khủng hoảng thừa.
Hiện tượng được mùa thì mất giá, và mất mùa thì giảm thu nhập diễn ra thường xuyên hết năm này đến năm khác, hết mặt hàng này đến cây trồng khác. Và chưa có dấu hiệu giảm, chứ chưa nói là kết thúc. Đây cũng là nguyên nhân mà tồn tại nông sanr kém chất lượng, gnguy hại tới sức khỏe người tiêu dùng.
Điển hình là con cá Ba Sa ở An Giang, những năm 1990 xuất sang Mỹ giá 8-9 USD/kg. Khi họ pha trộn cá Tra vào gạt khách hàng thấy lãi khủng và khi nhà máy đông lạnh cho ra "rợp trời" sản phẩm thì sản lượng cá Tra tăng không kiểm soát nổi, kéo theo phải hạ giá, phá sản hàng loạt, từ người nuôi cho đến nhà máy. Tình hình ấy từ năm 2000 Bộ và địa phương ai cũng thấy mà không ai biết phải làm gì để ngăn lại.
Cây lúa hạt gạocũng vậy, nhưng nó không "bạo phát bạo tàn" như con cá Tra nên còn âm ỉ chịu khổ kéo dài. Cuộc chơi này nông dân luôn luôn là người thua cuộc, càng đi sâu vào thế kỷ 21 càng thua đậm. Kinh tế Việt Nam rõ là thiếu nhạc trưởng.
Quản lý kiểu cắt khúc, phân đoạn
Có thể chỉ ra một số nguyên nhân cho các tồn tại trên.
Trước hết là do thời bao cấp thiếu thốn mọi thứ, nên tâm lý "Thi đua làm cho nhanh, làm cho tốt, làm cho nhiều" như lời bài hát "Thi đua" hồi chống Pháp quá ăn sâu trong xã hội.
Thời bao cấp chạy theo "thu nhập quốc dân". Sau đổi mới thì là "GDP/năm/nhiệm kỳ" mà "phép thử" là lấy tổng (+) GDP chia (:) cho đầu người để so sánh. Cách tính này chẳng khác nào chuyện một người chỉ được ăn rau, một người ăn con gà, nhưng tính bình quân thì mỗi người được nửa con gà, nửa đĩa rau.
Trong quản lý hình như ta quên phép nhân (x) và phép trừ (-). Các doanh nghiệp FDI xuất khẩu nhiều hơn doanh nghiệp nội địa làm ta "hài lòng" với tỷ lệ kim ngạch tăng cao liên tục là không thực chút nào. Khi đổi mới, sản xuất phát triển nhanh nhưng tư duy không đổi theo kịp nên bỡ ngỡ, nhất là không đổi mới thể chế quản lý kinh tế phù hợp với thị trường mà ta hội nhập.
Ngành nông nghiệp vẫn quản lý theo kiểu cắt khúc, phân đoạn, không ai là người chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng các sản phẩm chiến lược quốc gia, có giá trị tỷ đô như gạo, cá, cây ăn quả ở miền Tây; cao su, cà phê, trà... ở miền Đông Nam Bộ. Lo xuất khẩu mà bỏ thị trường nội địa hàng vài chục năm để gạo Thái, trái cây Thái, cá sặc rằn Thái... thế vào thì thật là đáng tiếc!.
Chiến lược ngành cơ khí là đến năm 2010 phải đáp ứng từ 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước, nhưng đến 2012 cũng chỉ mới được 32,6%. Không hiểu trong đó cho nông nghiệp được bao nhiêu, và trong "bao nhiêu" đó có tính đến những sản phẩm do nông dân tự chế tạo cung cấp cho nông dân, như các máy làm đất, hút bùn, gặt và suốt lúa, máy gieo hàng, máy phun thuốc tự hành, làm cầu treo qua khắp các kinh rạch miền Tây? Thị trường máy nông nghiệp đang rơi vào tay Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Thậm chí, mô-tơ bơm nước của Hà Nội rất tốt mà muốn mua phải tìm vỏ máy cũ gửi đổi mới có!.
Chúng ta hy vọng vào "Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp" do Bộ NN&PTNT trình và Thủ tướng phê duyệt số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013. Nhưng có những tổng công ty tiêu thụ sản phẩm của nông dân (thuộc Bộ) chẳng những không "tái" mà còn lỗ và nợ đầm đìa thì làm sao nông dân "nhờ cậy" được!?.
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm ủy ban đối ngoại của Quốc hội, thì Đề án ấy "không phân tách, đánh giá hiện trạng và cũng không có phần tổng kết, phân tách các nguyên nhân... Không có công đoạn này, e rằng tái cơ cấu nông nghiệp sẽ chông chênh, nguy cơ rơi vào vết xe cũ là rất lớn" (Báo Người Đại Biểu 7/4/2014).
Còn PGS. Vũ Trọng Khải, nguyên hiệu trưởng Trường đào tạo cán bộ nông nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT khi trả lời Báo VietNamNet hôm 11/4/2014 thì cho rằng: "Nhà tranh vách lá không thể "tái cấu trúc" thành nhà tường hay biệt thự được mà chỉ có tháo ra xây mới".
Theo dõi trả lời chất vấn của Bộ trưởng NN&PTNT trước Ủy ban TV QH ngày 8/4/2014, tôi lục lại các văn kiện của Đảng, Chính phủ và các văn bản chỉ đạo khác của Trung ương và địa phương từ những năm 1993 - 1994. Tất cả đều nói rất rõ về "Ba hóa", "Bốn nhà", "phát triển đồng thời nội - ngoại thương", "sản xuất cái khách hàng cần để bán" v.v... Nghĩa là sau hơn 20 năm vấn đề vẫn "mới tinh".
Chương trình cấp Nhà nước điều tra cơ bản tổng hợp Đồng bằng sông Cửu Long năm 1983 - 1990 không được quan tâm vận dụng là một lãng phí. Và đó cũng là nguyên nhân của tình hình "thấy người ta ăn khoai vác mai mà chạy", nên sản xuất không theo qui hoạch, gây khủng hoảng thừa.
Hiện tượng được mùa thì mất giá, và mất mùa thì giảm thu nhập diễn ra thường xuyên hết năm này đến năm khác, hết mặt hàng này đến cây trồng khác. Và chưa có dấu hiệu giảm, chứ chưa nói là kết thúc. Đây cũng là nguyên nhân mà tồn tại nông sanr kém chất lượng, gnguy hại tới sức khỏe người tiêu dùng.
Điển hình là con cá Ba Sa ở An Giang, những năm 1990 xuất sang Mỹ giá 8-9 USD/kg. Khi họ pha trộn cá Tra vào gạt khách hàng thấy lãi khủng và khi nhà máy đông lạnh cho ra "rợp trời" sản phẩm thì sản lượng cá Tra tăng không kiểm soát nổi, kéo theo phải hạ giá, phá sản hàng loạt, từ người nuôi cho đến nhà máy. Tình hình ấy từ năm 2000 Bộ và địa phương ai cũng thấy mà không ai biết phải làm gì để ngăn lại.
Cây lúa hạt gạocũng vậy, nhưng nó không "bạo phát bạo tàn" như con cá Tra nên còn âm ỉ chịu khổ kéo dài. Cuộc chơi này nông dân luôn luôn là người thua cuộc, càng đi sâu vào thế kỷ 21 càng thua đậm. Kinh tế Việt Nam rõ là thiếu nhạc trưởng.
Quản lý kiểu cắt khúc, phân đoạn
Có thể chỉ ra một số nguyên nhân cho các tồn tại trên.
Trước hết là do thời bao cấp thiếu thốn mọi thứ, nên tâm lý "Thi đua làm cho nhanh, làm cho tốt, làm cho nhiều" như lời bài hát "Thi đua" hồi chống Pháp quá ăn sâu trong xã hội.
Thời bao cấp chạy theo "thu nhập quốc dân". Sau đổi mới thì là "GDP/năm/nhiệm kỳ" mà "phép thử" là lấy tổng (+) GDP chia (:) cho đầu người để so sánh. Cách tính này chẳng khác nào chuyện một người chỉ được ăn rau, một người ăn con gà, nhưng tính bình quân thì mỗi người được nửa con gà, nửa đĩa rau.
Trong quản lý hình như ta quên phép nhân (x) và phép trừ (-). Các doanh nghiệp FDI xuất khẩu nhiều hơn doanh nghiệp nội địa làm ta "hài lòng" với tỷ lệ kim ngạch tăng cao liên tục là không thực chút nào. Khi đổi mới, sản xuất phát triển nhanh nhưng tư duy không đổi theo kịp nên bỡ ngỡ, nhất là không đổi mới thể chế quản lý kinh tế phù hợp với thị trường mà ta hội nhập.
Ngành nông nghiệp vẫn quản lý theo kiểu cắt khúc, phân đoạn, không ai là người chịu trách nhiệm đầu tiên và cuối cùng các sản phẩm chiến lược quốc gia, có giá trị tỷ đô như gạo, cá, cây ăn quả ở miền Tây; cao su, cà phê, trà... ở miền Đông Nam Bộ. Lo xuất khẩu mà bỏ thị trường nội địa hàng vài chục năm để gạo Thái, trái cây Thái, cá sặc rằn Thái... thế vào thì thật là đáng tiếc!.
Chiến lược ngành cơ khí là đến năm 2010 phải đáp ứng từ 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí cả nước, nhưng đến 2012 cũng chỉ mới được 32,6%. Không hiểu trong đó cho nông nghiệp được bao nhiêu, và trong "bao nhiêu" đó có tính đến những sản phẩm do nông dân tự chế tạo cung cấp cho nông dân, như các máy làm đất, hút bùn, gặt và suốt lúa, máy gieo hàng, máy phun thuốc tự hành, làm cầu treo qua khắp các kinh rạch miền Tây? Thị trường máy nông nghiệp đang rơi vào tay Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Thậm chí, mô-tơ bơm nước của Hà Nội rất tốt mà muốn mua phải tìm vỏ máy cũ gửi đổi mới có!.
Chúng ta hy vọng vào "Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp" do Bộ NN&PTNT trình và Thủ tướng phê duyệt số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013. Nhưng có những tổng công ty tiêu thụ sản phẩm của nông dân (thuộc Bộ) chẳng những không "tái" mà còn lỗ và nợ đầm đìa thì làm sao nông dân "nhờ cậy" được!?.
Theo giáo sư Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm ủy ban đối ngoại của Quốc hội, thì Đề án ấy "không phân tách, đánh giá hiện trạng và cũng không có phần tổng kết, phân tách các nguyên nhân... Không có công đoạn này, e rằng tái cơ cấu nông nghiệp sẽ chông chênh, nguy cơ rơi vào vết xe cũ là rất lớn" (Báo Người Đại Biểu 7/4/2014).
Còn PGS. Vũ Trọng Khải, nguyên hiệu trưởng Trường đào tạo cán bộ nông nghiệp thuộc Bộ NN&PTNT khi trả lời Báo VietNamNet hôm 11/4/2014 thì cho rằng: "Nhà tranh vách lá không thể "tái cấu trúc" thành nhà tường hay biệt thự được mà chỉ có tháo ra xây mới".
Tập đoàn Syngenta AG: "Cam kết hỗ trợ nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững"
"Chương trình Hạnh phúc" là dự án viện trợ không hoàn lại về phát triển cộng đồng của Chính phủ Hàn Quốc và là một mắt xích của "Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới" được Việt Nam thực hiện từ năm 2009 dựa theo cuộc vận động làng mới của Hàn Quốc. Chương trình hỗ trợ nông thôn mới này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm một số dự án nông thôn mới do KOICA đã hỗ trợ thí điểm từ năm 2001 - 2002.
Bên cạnh tăng trưởng kinh tế nhanh, Việt Nam đang gặp phải các trở ngại lớn như mất cân bằng trong phát triển lao động, chênh lệch giàu - nghèo và các vùng dân tộc xa xôi hẻo lánh. Chính vì vậy, Việt Nam rất cần tới sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế để khắc phục những điều đó.
Cơ quan Hợp tác Quốc tế (KOICA) - cơ quan chuyên trách về viện trợ không hoàn lại của chính phủ Hàn Quốc, dự định sẽ thực hiện dự án hỗ trợ tổng thể nhằm xóa đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng tại 2 khu vực còn nhiều khó khăn là Quảng Trị và Lào Cai thông qua Chương trình Hạnh phúc với tổng nguồn hỗ trợ khoảng 25 triệu đô la Mỹ từ năm 2014.
"Chương trình Hạnh phúc" được đặt tên theo tiêu ngữ "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" của Việt Nam và sự tương đồng về phát âm trong tiếng Hàn và tiếng Việt (Hạnh phúc - Hengbok), lấy hạnh phúc làm mục tiêu tích cực để phát triển kinh tế xã hội. Chương trình được xây dựng dựa trên mối quan hệ hai bên cùng có lợi về đối thoại chính sách với chính quyền địa phương, hoạt động tình nguyện tại địa phương từ năm 2012.
Theo đó, để thực hiện dự án này và đảm bảo tính bền vững, các biên bản ghi nhớ (MOU) lần lượt đã được ký kết. Tỉnh Quang Trị ký tháng 5 năm 2012, tỉnh Lào Cai ký tháng 5 năm 2013.
Ngoài ra, "Chương trình Hạnh phúc" đã thoát khỏi mô hình hỗ trợ dự án đơn lẻ trước đây để lập ra một kế hoạch trung và dài hạn. Vẫn là các hình thức hỗ trợ cũ (như các dự án nhỏ, tăng cường năng lực, phái cử chuyên gia/ tình nguyện viên vv...) nhưng tập trung vào một địa phương nhằm tăng cường khả năng dự đoán và nâng cao hiệu quả viện trợ.
Nói về "Chương trình Hạnh phúc", chủ tịch KOICA Kim Young Mok nhấn mạnh: "Chương trình Hạnh phúc sẽ không chỉ dừng lại ở sự hỗ trợ của KOICA mà còn được thực hiện với vai trò như "Nền tảng hợp tác phát triển" có thể khuyến khích sự tham gia của các đối tác phát triển đa dạng của Hàn Quốc như: NGO, các doanh nghiệp, giới trí thức. Do đó, trong thời gian tới, chúng ta có thể kỳ vọng vào hiệu quả của công thức "viện trợ không hoàn lại + α".
Từ những phế phẩm nông nghiệp tưởng chừng là đồ bỏ đi, nhiều doanh nghiệp (DN) nhờ nắm bắt được thời cơ đã chế biến thành các mặt hàng xuất khẩu đắt giá. Thậm chí do nhu cầu thị trường ngày càng lớn, các DN tái chế phế phẩm tăng sản lượng nhưng vẫn lo không đủ hàng cung ứng.
Từ những phế phẩm nông nghiệp tưởng chừng là đồ bỏ đi, nhiều doanh nghiệp (DN) nhờ nắm bắt được thời cơ đã chế biến thành các mặt hàng xuất khẩu đắt giá. Thậm chí do nhu cầu thị trường ngày càng lớn, các DN tái chế phế phẩm tăng sản lượng nhưng vẫn lo không đủ hàng cung ứng.
Các chế phẩm từ vỏ quả dừa, xơ dừa, vỏ hạt điều… như: sản phẩm thủ công mỹ nghệ, than hoạt tính, cơm dừa sấy khô, mùn cưa, hộp khử mùi tủ lạnh… của Công ty CP Trà Bắc - Trabaco (Trà Vinh), dầu vỏ hạt điều,
Hay các sản phẩm như bã mía, vỏ thơm, bã mì… cũng đã giúp ông Nguyễn Văn Nghĩa, Giám đốc Công ty TNHH Kim Nghĩa (Long An), xuất khẩu và đạt doanh thu hàng triệu USD mỗi năm. Trong năm 2013, dù các ngành sản xuất xuất khẩu đều gặp khó nhưng việc kinh doanh sản phẩm này vẫn ổn định, doanh thu tăng hơn 15% so với 2012. Bã mía, vỏ thơm, bã mì sẽ được chế biến đóng gói hoặc ép thành từng khối, nén thành viên xuất sang Nhật. Những sản phẩm này xuất sang Nhật sẽ được làm thức ăn chăn nuôi cho bò sữa và bò thịt.
Hỗ trợ 500 triệu đồng sản xuất sản phẩm mới
Theo Thông tư liên tịch 26/2014/TTLT-BTC-BCT do Bộ Tài chính và Bộ Công thương ban hành, từ ngày 8.4, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ thành lập doanh nghiệp (DN) sản xuất công nghiệp nông thôn tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn không quá 10 triệu đồng/DN. Hỗ trợ xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới với mức tối đa 30% nhưng không quá 500 triệu đồng/mô hình.
Ngoài ra, các cơ sở công nghiệp, nông nghiệp đang hoạt động có hiệu quả cần phổ biến tuyên truyền, nhân rộng cũng sẽ được hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng/mô hình; hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với mức tối đa 50% chi phí nhưng không quá 200 triệu đồng/cơ sở...
Nông sản vẫn cần xuất khẩu tiểu ngạch
Thứ Sáu, ngày 24/01/2014 19:00 PM (GMT+7)
Mặc dù có nhiều rủi ro trong giao dịch,
thanh toán nhưng với những lợi thế riêng biệt của mình, nông sản xuất
khẩu tiểu ngạch (hay biên mậu) vẫn “sống khỏe”.
Giá tăng nhờ tiểu ngạch
Những ngày cuối năm, không khí vui tươi, tất bật chuẩn bị cho các đơn
hàng xuất khẩu rộn ràng khắp các huyện Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc,
tỉnh Bình Thuận. Chị Nguyễn Thị Tư ở xã Hàm Mỹ, huyện Hàm Thuận Nam,
tỉnh Bình Thuận, vui vẻ cho biết gia đình chị vừa xuất bán 6 tấn thanh
long với giá “khủng” 30.000 đồng/kg.
“Thương lái vào tận vườn mua, lựa chọn dễ tính, nói là chở ra Bắc
xuất qua Trung Quốc vì bên đó đang ăn hàng mạnh. Chắc nhờ vậy mà giá
tăng cao, chứ mọi khi có 15.000 – 16.000 đồng/kg. Năm nay ăn tết lớn
rồi” – chị Tư cười vui vẻ. Với mức giá này, nông dân có lời gấp đôi vì
giá thành bình quân chỉ khoảng 13.000 – 15.000 đồng/kg.
Tại Long An, Tiền Giang giá thanh long cũng “vọt” lên 29.000 – 30.000
đồng/kg trong mấy ngày qua. Bà Nguyễn Thị Hồng Thu - Giám đốc Công ty
Xuất khẩu trái cây Chánh Thu, cho biết hơn 70% sản lượng trái cây xuất
khẩu năm 2013 của công ty bà là xuất qua Trung Quốc bằng đường tiểu
ngạch. “Không chỉ thanh long được giá mà nhiều loại trái cây khác như
nhãn, sầu riêng,… năm nay giá cũng cao ngất ngưởng nhờ Trung Quốc ăn
hàng mạnh. Nên ai nói gì nói, xuất khẩu tiểu ngạch vẫn là lợi thế không
thể bỏ của công ty tôi” – bà Thu khẳng định.

Thanh long Việt Nam đã được xuất khẩu sang Hàn Quốc (Ảnh minh họa)
Đây cũng chính là quan điểm mà nhiều doanh nghiệp ngành lúa gạo, chăn
nuôi thừa nhận. Bởi trong năm 2013, khi mà các doanh nghiệp gặp khó về
thị trường, thì sự tăng trưởng mạnh mẽ của xuất khẩu gạo biên mậu qua
sang Trung Quốc đã cứu giá lúa trong nước.
Theo thống kê của Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2013 xuất khẩu
gạo tiểu ngạch qua Trung Quốc cao gấp 4 lần năm 2012, đạt hơn 1,5 triệu
tấn. Có thời điểm giá gạo xuất khẩu tiểu ngạch cao hơn xuất chính ngạch
đến 50 USD/tấn. Do đó có thể nói, xuất tiểu ngạch đã có công trong việc
giữ giá lúa nội địa ổn định từ cuối vụ hè thu (sau khi chương trình tạm
trữ của Chính phủ kết thúc) và tăng cao dần trong vụ thu đông cho đến
nay.
Tương tự, trong khi con gà “chết bờ chết bụi” vì giá giảm sâu thì con
lợn lại trụ vững ở mức 40.000 – 42.000 đồng/kg giúp nông dân có lời.
Tất cả cũng nhờ sự tăng trưởng mạnh trong việc xuất biên mậu qua Trung
Quốc.
Là lợi thế không nên bỏ
Mặc dù có một số rủi ro trong thanh toán hay có thời điểm bị ép giá,
dội hàng nhưng với lợi thế thị trường lớn, phương thức giao dịch nhanh
gọn, dễ tính, xuất khẩu tiểu ngạch vẫn là sự lựa chọn của nhiều doanh
nghiệp.
| Từ khi thực hiện Hiệp định khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) từ 2010 đến nay, thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc đã có sự phát triển nhảy vọt với tốc độ tăng trưởng bình quân 24%/năm. |
“Trong khi việc tiếp cận các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật, Hàn
Quốc, EU… vẫn gặp nhiều khó khăn, do vận chuyển xa, bảo quản dài ngày
cũng như yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm khắt khe, thì xuất tiểu
ngạch vẫn là hướng ra thích hợp trong thời điểm hiện tại. Còn việc bị
quỵt tiền không thanh toán, công ty tôi mấy năm nay không còn bị sau khi
biết chọn mặt gởi vàng, chỉ làm ăn với những bạn hàng uy tín” – bà Hồng
Thu giải thích.
Bên cạnh đó, phía Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại về các chính sách
hải quan, thuế. “Cùng một mặt hàng, nếu chúng tôi đóng container xuất
khẩu chính ngạch sang các bến cảng như Thượng Hải thì phải đóng thuế đến
18%, khiến hàng hóa mất khả năng cạnh tranh. Trong khi đó nếu đi đường
tiểu ngạch qua cửa khẩu Lạng Sơn thì chẳng phải đóng đồng thuế nào. Đây
chính là lý do vì sao xuất khẩu tiểu ngạch tăng mạnh trong thời gian qua
vì thương nhân Trung Quốc thấy có lợi hơn nên họ yêu cầu nhập tiểu
ngạch” – ông Lâm Anh Tuấn- Giám đốc Công ty Thịnh Phát (Bến Tre) phân
tích.
Ông Nguyễn Văn Tiến - Tổng Giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu An
Giang, cũng cho rằng trong bối cảnh xuất khẩu chính ngạch còn gặp rất
nhiều khó khăn, thì Nhà nước cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp
xuất khẩu gạo qua đường tiểu ngạch nhằm góp phần tiêu thụ hết lúa gạo
hàng hóa trong nước.
Tuy nhiên, nếu khuyến khích xuất khẩu gạo qua đường tiểu ngạch, thì
cũng phải đi đôi với việc tăng cường kiểm soát con đường này. Bởi có một
thực tế là hiện nay, lượng gạo đi đường tiểu ngạch sang Trung Quốc đã
lên tới 1,5 triệu tấn nhưng lượng gạo mà Nhà nước kiểm soát được còn khá
khiêm tốn, chưa tới 300.000 tấn.
| Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh:Sẽ có chiến lược xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc Bộ Công Thương không có chủ trương chặn việc xuất tiểu ngạch nhằm bảo vệ quyền lợi cho nông dân. Tuy nhiên, xuất khẩu tiểu ngạch còn chứa đựng nhiều vấn đề như phụ thuộc vào điều kiện hạ tầng khu vực biên giới và chính sách của nước nhập khẩu. Mặt khác nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lâu nay phụ thuộc vào thị trường tiểu ngạch do thị trường này khá dễ dãi về mặt chất lượng. Mà như thế thì sản phẩm nông nghiệp khó xây dựng thương hiệu. Để khắc phục những tình trạng này, Bộ Công Thương đang gấp rút cùng Bộ NNPTNT xây dựng đề án, chiến lược xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc để có sự định hướng cho các doanh nghiệp tham gia thị trường này. |
Theo Ngọc Minh (Dân Việt)
Brazil nằm trong top các nước sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi hàng đầu thế giới, trong đó đứng đầu trong xuất khẩu hạt đậu tương, cà phê, đường, nước cam, thịt bò và thịt gà.
Quế Trà Bồng tăng giá, người dân phấn khởi
Nông dân Trung Quốc thành đại gia nhờ kinh doanh trực tuyến
Xây dựng mô hình phát triển cây chùm ngây vùng Bảy Núi
Liên kết đầu tư 19.000 ha vùng lúa chất lượng cao
BASF hỗ trợ toàn diện ngành trồng trọt Việt Nam
Luật ngầm buôn hoa quả thối chợ Long Biên
Nông sản tắc nghẽn ở cửa khẩu
Mô hình công ty cổ phần nông nghiệp
Theo ông Lê Minh Dũng, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT TP Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, thành phố đã xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng đô thị hiện đại, hiệu quả và bền vững. Thành phố cũng ban hành nhiều chính sách để tạo điều kiện thúc đẩy áp dụng khoa học công nghệ cao, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cùng với những giải pháp đồng bộ khác, việc ứng dụng công nghệ cao công nghệ sinh học góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp thành phố.
Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ngành nông nghiệp là 4,6%. Giá trị sản xuất/ ha sản xuất nông nghiệp nếu như năm 2008 là 117 triệu đồng/ha thì năm 2012 đạt 239 triệu đồng/ha. Nhiều loại cây trồng vật nuôi có hiệu quả cao được đưa vào sản xuất. Ví dụ như với hoa, cây kiểng, diện tích sản xuất tăng 1,5 lần nhưng giá trị sản xuất đã tăng 2,7 lần. Tương tự với rau, diện tích sản xuất tăng 1,5 lần, giá trị sản xuất tăng 5 lần; bò sữa tăng 1,3 lần nhưng giá trị tăng 2,7 lần. Sản xuất nông nghiệp theo hướng này đã giúp cải thiện đời sống cho nông dân.
Thành phố cũng đã xây dựng nhiều giải pháp để phát triển, củng cố kinh tế tập thể, đặc biệt là ở các xã nông thôn mới, để nâng cao năng lực, vai trò của hợp tác xã nông nghiệp. Trong đề án xây dựng nông thôn mới, ngành nông nghiệp tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ cao chỉ phát huy hiệu quả khi có hình thức tổ chức sản xuất phù hợp như hợp tác xã, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và quy mô sản xuất phù hợp.
Ông Lê Ngọc Đức, Trưởng phòng Kế hoạch - Đầu tư Ban quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao cho biết, ngoài việc khảo nghiệm các giống cây, triển khai tập huấn, đào tạo chuyển giao công nghệ cho nông dân, cán bộ kỹ thuật, nhiều dự án đầu tư vào Khu nông nghiệp công nghệ cao đã phát huy hiệu quả rất tốt. Trong năm 2013, các doanh nghiệp đã sản xuất và cung cấp cho thị trường hơn 14 tấn hạt giống một số loại cây chất lượng cao, doanh thu đạt hơn 98 tỷ đồng. Nếu năm 2012, lao động nông nghiệp của thành phố có khoảng 85,8 nghìn người với năng suất lao động bình quân 79,6 triệu đồng/lao động/ năm thì năm 2013, lao động nông nghiệp chỉ còn 78,7 nghìn người, nhưng năng suất bình quân tăng lên 98,6 triệu đồng/lao động/năm.
Cần tổ chức lại sản xuất
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, nông nghiệp thành phố chưa chuyển biến mang tính đột phá. Nguyên nhân chính của tình trạng này vẫn là việc tổ chức sản xuất chưa hiệu quả.
Nhìn nhận vấn đề này, ông Lê Minh Dũng cho rằng, trong thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố. Căn nguyên là do hình thức sản xuất vẫn chưa theo kịp với đà phát triển, quy mô sản xuất còn nhỏ, nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn hẹp và thị trường đầu ra cho nông sản chưa ổn định.
Theo ông Dũng, muốn nền nông nghiệp phát triển cần có hình thức tổ chức phù hợp. Đó là mô hình kinh tế tập thể, để tạo ra một khối lượng sản phẩm đủ lớn, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Quy mô nông hộ như hiện nay khó có thể ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao vào sản xuất. Nếu chúng ta có một vùng sản xuất rộng thì việc áp dụng khoa học công nghệ cao sẽ thuận lợi hơn. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đối với bà con nông dân còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp tham gia đầu tư cho nông nghiệp lại chưa nhiều, thị trường nông sản trong nước bị phụ thuộc khá nhiều vào thị trường thế giới. Ngành nông nghiệp cũng xây dựng nhiều chương trình hỗ trợ bà con trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm... nhưng quy mô sản xuất hạn chế nên việc xây dựng thương hiệu, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn.
Chia sẻ về vấn đề này, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đất - Phân bón - Môi trường phía Nam cho biết: Nông nghiệp đô thị phải tận dụng tối đa ưu thế của đô thị, riêng việc thành phố có dân số 10 triệu dân đã là một ưu thế rất lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Thành phố lại là trung tâm của các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ. Đây cũng chính là một ưu thế cho ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, đánh giá một cách toàn diện thì thành phố chưa có nền nông nghiệp công nghệ cao thực sự. Hai vùng nông thôn lớn nhất của thành phố là Cần Giờ và Bình Chánh hiện chưa có khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chưa có dáng dấp của vùng nguyên liệu. Hiện trạng sản xuất tại hai khu vực này vẫn rời rạc, nhỏ lẻ, chưa có khu sản xuất tập trung.
TS Nghĩa cho rằng, thành phố cần một "nhạc trưởng" để tổ chức sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Thành phố có mục tiêu tốt, có những chính sách đầu tư tốt, nhưng còn thiếu sự liên kết, tập hợp các lợi thế để phát huy các tiềm năng đang có. Ngành nông nghiệp cần phải tổ chức lại từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, phân loại sản phẩm tiêu thụ tươi, tiêu thụ chế biến. Như vậy, thành phố phải có kế hoạch, quy hoạch lại nền nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa cho từng vùng, từng vụ, từng loại sản phẩm cho từng thời điểm phù hợp với nhu cầu thị trường. Cán bộ nông nghiệp phải hướng cho nông dân trong việc chủ động nguồn nguyên vật liệu đầu vào và cả đầu ra cho sản phẩm, để nông dân hiểu được vấn đề, thấy được cái lợi, cái ổn định khi tham gia áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, thay đổi tập quán canh tác và bảo đảm có lợi nhuận cao.
Xây dựng mô hình phát triển cây chùm ngây vùng Bảy Núi
Liên kết đầu tư 19.000 ha vùng lúa chất lượng cao
BASF hỗ trợ toàn diện ngành trồng trọt Việt Nam
Luật ngầm buôn hoa quả thối chợ Long Biên
Nông sản tắc nghẽn ở cửa khẩu
Mô hình công ty cổ phần nông nghiệp
Đề án tái cơ cấu nông nghiệp
Công ty CP dinh dưỡng nông nghiệp Quốc Tế (ANCO) - một trong những đơn vị cung cấp thức ăn chăn nuôi hàng đầu tại Việt Nam - đã chính thức công bố ông Ernest Vijyakumar Richards, quốc tịch Malaysia, được bổ nhiệm giữ chức tổng giám đốc.
Suốt 12 năm qua, công ty luôn phát triển nhanh và ổn định, với mức tăng trưởng doanh thu trung bình 48% trong 3 năm trở lại đây. Công ty ANCO có trụ sở tại lô A4, KCN Sông Mây (Trảng Bom, Đồng Nai) và mở rộng thêm các nhà máy mới tại Vĩnh Long, Hà Nam, tham gia thêm ngành chăn nuôi, sản xuất thực phẩm chế biến theo mô hình chuỗi giá trị từ trang trại đến bàn ăn. Đến nay, mỗi năm ANCO cung cấp cho thị trường gần 300.000 tấn sản phẩm thức ăn chăn nuôi các loại.
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Nông nghiệp công nghệ cao là hình mẫu trong nông nghiệp đô thị. TP Hồ Chí Minh với những tiềm lực có sẵn về khoa học kỹ thuật cao, nguồn nhân lực được đào tạo tốt và rất nhiều lợi thế về thị trường..., việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một hướng đi tất yếu, đặc biệt là đối với chính sách phát triển nông thôn mới. Dù vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, thành phố cần phải tổ chức lại sản xuất thì mô hình này mới phát huy hiệu quả bền vững.
Hiệu quả từ nông nghiệp đô thị
Bắt đầu hoạt động từ năm 2010, Khu nông nghiệp công nghệ cao là một minh chứng cho chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp đô thị cho TP Hồ Chí Minh. Nhiều đề tài nghiên cứu và nhiều mô hình đã được triển khai, ứng dụng và được chuyển giao cho nông dân từ những nghiên cứu bước đầu này.
Bắt đầu hoạt động từ năm 2010, Khu nông nghiệp công nghệ cao là một minh chứng cho chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp đô thị cho TP Hồ Chí Minh. Nhiều đề tài nghiên cứu và nhiều mô hình đã được triển khai, ứng dụng và được chuyển giao cho nông dân từ những nghiên cứu bước đầu này.
Việc ứng dụng công nghệ cao trong việc trồng nấm dược liệu đem lại lợi ích kinh tế lớn cho nông dân tại các xã xây dựng nông thôn mới. |
Theo ông Lê Minh Dũng, Phó Giám đốc Sở NN & PTNT TP Hồ Chí Minh, trong thời gian qua, thành phố đã xây dựng một nền nông nghiệp theo hướng đô thị hiện đại, hiệu quả và bền vững. Thành phố cũng ban hành nhiều chính sách để tạo điều kiện thúc đẩy áp dụng khoa học công nghệ cao, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cùng với những giải pháp đồng bộ khác, việc ứng dụng công nghệ cao công nghệ sinh học góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp thành phố.
Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân ngành nông nghiệp là 4,6%. Giá trị sản xuất/ ha sản xuất nông nghiệp nếu như năm 2008 là 117 triệu đồng/ha thì năm 2012 đạt 239 triệu đồng/ha. Nhiều loại cây trồng vật nuôi có hiệu quả cao được đưa vào sản xuất. Ví dụ như với hoa, cây kiểng, diện tích sản xuất tăng 1,5 lần nhưng giá trị sản xuất đã tăng 2,7 lần. Tương tự với rau, diện tích sản xuất tăng 1,5 lần, giá trị sản xuất tăng 5 lần; bò sữa tăng 1,3 lần nhưng giá trị tăng 2,7 lần. Sản xuất nông nghiệp theo hướng này đã giúp cải thiện đời sống cho nông dân.
Thành phố cũng đã xây dựng nhiều giải pháp để phát triển, củng cố kinh tế tập thể, đặc biệt là ở các xã nông thôn mới, để nâng cao năng lực, vai trò của hợp tác xã nông nghiệp. Trong đề án xây dựng nông thôn mới, ngành nông nghiệp tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp và ứng dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất. Giải pháp ứng dụng khoa học công nghệ cao chỉ phát huy hiệu quả khi có hình thức tổ chức sản xuất phù hợp như hợp tác xã, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và quy mô sản xuất phù hợp.
Ông Lê Ngọc Đức, Trưởng phòng Kế hoạch - Đầu tư Ban quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao cho biết, ngoài việc khảo nghiệm các giống cây, triển khai tập huấn, đào tạo chuyển giao công nghệ cho nông dân, cán bộ kỹ thuật, nhiều dự án đầu tư vào Khu nông nghiệp công nghệ cao đã phát huy hiệu quả rất tốt. Trong năm 2013, các doanh nghiệp đã sản xuất và cung cấp cho thị trường hơn 14 tấn hạt giống một số loại cây chất lượng cao, doanh thu đạt hơn 98 tỷ đồng. Nếu năm 2012, lao động nông nghiệp của thành phố có khoảng 85,8 nghìn người với năng suất lao động bình quân 79,6 triệu đồng/lao động/ năm thì năm 2013, lao động nông nghiệp chỉ còn 78,7 nghìn người, nhưng năng suất bình quân tăng lên 98,6 triệu đồng/lao động/năm.
Cần tổ chức lại sản xuất
Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, nông nghiệp thành phố chưa chuyển biến mang tính đột phá. Nguyên nhân chính của tình trạng này vẫn là việc tổ chức sản xuất chưa hiệu quả.
Nhìn nhận vấn đề này, ông Lê Minh Dũng cho rằng, trong thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố. Căn nguyên là do hình thức sản xuất vẫn chưa theo kịp với đà phát triển, quy mô sản xuất còn nhỏ, nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp còn hạn hẹp và thị trường đầu ra cho nông sản chưa ổn định.
Theo ông Dũng, muốn nền nông nghiệp phát triển cần có hình thức tổ chức phù hợp. Đó là mô hình kinh tế tập thể, để tạo ra một khối lượng sản phẩm đủ lớn, có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Quy mô nông hộ như hiện nay khó có thể ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao vào sản xuất. Nếu chúng ta có một vùng sản xuất rộng thì việc áp dụng khoa học công nghệ cao sẽ thuận lợi hơn. Nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp đối với bà con nông dân còn hạn chế, số lượng doanh nghiệp tham gia đầu tư cho nông nghiệp lại chưa nhiều, thị trường nông sản trong nước bị phụ thuộc khá nhiều vào thị trường thế giới. Ngành nông nghiệp cũng xây dựng nhiều chương trình hỗ trợ bà con trong việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, xây dựng thương hiệu, tiêu thụ sản phẩm... nhưng quy mô sản xuất hạn chế nên việc xây dựng thương hiệu, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm còn gặp nhiều khó khăn.
Chia sẻ về vấn đề này, TS Nguyễn Đăng Nghĩa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đất - Phân bón - Môi trường phía Nam cho biết: Nông nghiệp đô thị phải tận dụng tối đa ưu thế của đô thị, riêng việc thành phố có dân số 10 triệu dân đã là một ưu thế rất lớn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Thành phố lại là trung tâm của các cơ quan nghiên cứu khoa học, công nghệ. Đây cũng chính là một ưu thế cho ngành nông nghiệp.
Tuy nhiên, đánh giá một cách toàn diện thì thành phố chưa có nền nông nghiệp công nghệ cao thực sự. Hai vùng nông thôn lớn nhất của thành phố là Cần Giờ và Bình Chánh hiện chưa có khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chưa có dáng dấp của vùng nguyên liệu. Hiện trạng sản xuất tại hai khu vực này vẫn rời rạc, nhỏ lẻ, chưa có khu sản xuất tập trung.
TS Nghĩa cho rằng, thành phố cần một "nhạc trưởng" để tổ chức sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Thành phố có mục tiêu tốt, có những chính sách đầu tư tốt, nhưng còn thiếu sự liên kết, tập hợp các lợi thế để phát huy các tiềm năng đang có. Ngành nông nghiệp cần phải tổ chức lại từ khâu sản xuất đến tiêu thụ, phân loại sản phẩm tiêu thụ tươi, tiêu thụ chế biến. Như vậy, thành phố phải có kế hoạch, quy hoạch lại nền nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa cho từng vùng, từng vụ, từng loại sản phẩm cho từng thời điểm phù hợp với nhu cầu thị trường. Cán bộ nông nghiệp phải hướng cho nông dân trong việc chủ động nguồn nguyên vật liệu đầu vào và cả đầu ra cho sản phẩm, để nông dân hiểu được vấn đề, thấy được cái lợi, cái ổn định khi tham gia áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, thay đổi tập quán canh tác và bảo đảm có lợi nhuận cao.
Lâm Đồng là điểm sáng nông nghiệp công nghệ cao
Nông dân trồng khoai mỡ "lao đao" vì giá thấp
NHNN vừa ban hành Thông tư 13/2014/TT-NHNN hướng dẫn việc cho vay theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.
Thông tư gồm 10 Điều quy định chi tiết các nội dung triển khai thực hiện Quyết định 68/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. So với Thông tư số 22/2012/TT-NHNN ngày 22/6/2012, Thông tư số 13/2014/TT-NHNN có một số điểm mới.
Đáng chú ý là ngoài các NHTM nhà nước đang cho vay nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trước đây, Thông tư 13/2014/TT-NHNN đã cho phép các NHTM được thành lập và hoạt động theo Luật Các TCTD được cho vay nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.
Về lãi suất và mức cho vay, các NHTM cho vay theo mức lãi suất cho vay thấp nhất áp dụng cho các khoản vay von phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cùng kỳ hạn và cùng thời kỳ.
Mức cho vay tối đa được hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 1 và khoản 4 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg. Việc hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất đối với khách hàng được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Thông tư cũng nêu rõ: Thời hạn cho vay đối với khách hàng mua máy, thiết bị theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg do NHTM và khách hàng thỏa thuận, nhưng chỉ được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất tối đa 03 năm.
Thời hạn cho vay đối với khách hàng đầu tư dự án dây chuyền máy, thiết bị quy định tại khoản 5 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg do NHTM và khách hàng tự thỏa thuận, phù hợp với khả năng thu hồi vốn của dự án, nhưng tối đa không quá 12 năm.
Tuy nhiên, các đối tượng vay vốn bằng đồng Việt Nam mua máy, thiết bị nằm trong danh mục chủng loại máy, thiết bị sản xuất trong nước, nhập khẩu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bổ và đầu tư các dự án máy, thiết bị được thẩm định theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đồng thời phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 3 Điều 1 và khoản 3 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg.
Đáng chú ý là ngoài các NHTM nhà nước đang cho vay nhằm giảm tổn thất sau thu hoạch theo Quyết định số 63/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trước đây, Thông tư 13/2014/TT-NHNN đã cho phép các NHTM được thành lập và hoạt động theo Luật Các TCTD được cho vay nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.
Về lãi suất và mức cho vay, các NHTM cho vay theo mức lãi suất cho vay thấp nhất áp dụng cho các khoản vay von phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cùng kỳ hạn và cùng thời kỳ.
Mức cho vay tối đa được hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất quy định tại khoản 4 Điều 1 và khoản 4 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg. Việc hỗ trợ lãi suất, cấp bù chênh lệch lãi suất đối với khách hàng được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Thông tư cũng nêu rõ: Thời hạn cho vay đối với khách hàng mua máy, thiết bị theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg do NHTM và khách hàng thỏa thuận, nhưng chỉ được ngân sách nhà nước hỗ trợ lãi suất tối đa 03 năm.
Thời hạn cho vay đối với khách hàng đầu tư dự án dây chuyền máy, thiết bị quy định tại khoản 5 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg do NHTM và khách hàng tự thỏa thuận, phù hợp với khả năng thu hồi vốn của dự án, nhưng tối đa không quá 12 năm.
Tuy nhiên, các đối tượng vay vốn bằng đồng Việt Nam mua máy, thiết bị nằm trong danh mục chủng loại máy, thiết bị sản xuất trong nước, nhập khẩu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bổ và đầu tư các dự án máy, thiết bị được thẩm định theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Đồng thời phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 3 Điều 1 và khoản 3 Điều 2 Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg.
Việc ứng dụng công nghệ cao trong việc trồng nấm dược liệu đem lại lợi ích kinh tế lớn cho nông dân tại các xã xây dựng nông thôn mới.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét